Dấu trừ, bớt đi và tách ra, số 0 trong phép trừ, và trừ liên tiếp hai lần.
Ở Bài 10 em đã học phép cộng. Bài này em học phép ngược lại: khi bớt đi hoặc lấy ra một phần thì còn lại mấy. Đó là phép trừ, và nó có một dấu mới: dấu trừ.
Trên cành có 6 quả, em hái đi 1 quả. Còn lại mấy quả? Em đếm số quả còn trên cành: một, hai, ba, bốn, năm.
Dấu “−” đọc là dấu trừ. Ta viết phép tính như sau:
Đọc là “sáu trừ một bằng năm”.
Thêm một ví dụ nữa: có 5 con chim đậu trên dây, 2 con bay đi thì còn 3 con.
Có 9 củ cà rốt, em tách ra 3 củ để riêng. Phần còn lại có mấy củ? Em đếm phần còn lại: 6 củ.
Cả 9 củ tách thành phần lấy ra và phần còn lại:
Bớt đi và tách ra tuy nói khác nhau nhưng đều dẫn tới cùng một phép tính: phép trừ.
Trong lồng có 3 con thỏ. Nếu em không thả con nào ra thì vẫn còn đủ 3 con: 3 − 0 = 3.
Nếu em thả hết cả 3 con thì trong lồng không còn con nào: 3 − 3 = 0.
Vậy: trừ đi 0 thì số không đổi, còn trừ đi chính nó thì bằng 0.
Muốn tính 8 − 3, em bắt đầu từ 8 rồi đếm lùi ba bước: bảy, sáu, năm. Cách này rất nhanh khi số trừ nhỏ.
Nếu 4 và 3 gộp lại được 7 thì từ 7 em có ngay hai phép trừ: 7 − 4 = 3 và 7 − 3 = 4. Biết một phép gộp là em biết luôn hai phép trừ.
Có 9 quả bóng, cho đi 3 quả rồi lại cho tiếp 2 quả. Em làm lần lượt từ trái sang phải: 9 − 3 = 6, rồi 6 − 2 = 4.
Bảng trừ với số 9 giúp em nhớ nhanh:
Em để ý mà xem: số trừ tăng dần thì kết quả lại giảm dần.
Trò “câu cá”: bố mẹ viết các số từ 0 đến 10 lên mười một mẩu giấy nhỏ rồi úp xuống bàn. Bố mẹ đọc một phép trừ, em tính nhẩm rồi lật đúng mẩu giấy ghi kết quả. Lật đúng năm lần là em thắng.